Động phòng là gì? Đại đại số mọi người hiểu sai từ này

Nói đến từ “Động phòng” có lẽ mọi người đều nghĩ đến câu thơ “Động phòng hoa chúc dạ”, và hiểu là “đêm động phòng hoa chúc”, “đêm tân hôn”. Tuy nhiên, ý nghĩa từ “động phòng” này hiện nay đại đa số mọi người đang hiểu nhầm, cho rằng “động phòng” nghĩa là “hoạt động phòng the”, mà chữ “động” ở đây là hang động, về mặt nghĩa đen, “động phòng” là phòng nơi thâm sâu như hang động.

Ấn tượng của đại đa số người Việt là từ “Động phòng” là chuyện vợ chồng của cặp đôi mới cưới. Đây là một sai lầm nghiêm trọng mà có lẽ đại đa số người Việt chúng ta mắc phải. Từ “Động phòng” là gốc Hán, chữ Hán viết 洞房, theo từ điển của cả Đài Loan và Trung Quốc đều định nghĩa là: 1. Buồng trong thâm sâu; 2. Phòng cưới của vợ chồng mới cưới. Vậy tại sao từ Động phòng – phòng hang động, lại có nghĩa là phòng cưới?

Từ Động phòng được sử dụng trong các thư tịch lịch sử

Từ “Động phòng” này có nguồn gốc và quá trình diễn biến ngữ nghĩa rất lâu dài. Thời xưa, người ta đã gọi phòng tân hôn là “động phòng” rồi. Các văn sĩ xưa lấy “động phòng” làm đề tài sáng tác rất nhiều, không đếm xuể. 

Từ “Động phòng” xuất hiện sớm nhất trong bài thơ Chiêu Hồn trong Sở Từ rằng: “Khoa dung tu thái, cắng động phòng ta”, có nghĩa là: “Dung mạo xinh đẹp, hình dáng thon thả, bước đi uyển chuyển trong động phòng”. 

Dữu Tín thời Bắc Chu Trung Quốc có câu thơ: “Động phòng hoa chúc minh, vũ dư song yến khinh”, nghĩa là “Động phòng hoa đuốc sáng, đôi én múa nhẹ nhàng”.

Hồng Mại đời Tống viết câu thơ đẹp trong “Dung trai tùy bút” rằng: “Động phòng hoa chúc dạ, kim bảng đề danh thì”, nghĩa là: “Đêm động phòng hoa chúc, lúc bảng vàng ghi danh”.

Có thể thấy, mỹ danh “Động phòng” đã được sử dụng trong các thư tịch lịch sử từ rất lâu đời rồi.

Tại sao lại gọi Phòng tân hôn là Động phòng?

“Động phòng” ban đầu vốn không phải là chỉ phòng tân hôn. Tương truyền, đại tài tử đời Hán là Tư Mã Tương Như đã từng làm một bài phú “Trường môn phú”, đã miêu tả chuyện Trần Hoàng hậu bị thất sủng, khi được biết Vũ Đế hứa sáng đi chiều đến, bà đã nấp nỏm đợi chờ. Đến khi trời sắp tối vẫn chưa thấy quân vương giá lâm, thế là bà một mình dạo bước loanh quanh, “Huyền minh nguyệt dĩ tự chiếu hĩ, tồ thanh dạ ư động phòng”, nghĩa là: “Treo vầng trăng sáng tự chiếu mình, đến lúc đêm thanh về động phòng”.

Động phòng ở đây không phải là phòng tân hôn, mà là chỉ phòng ở hoa lệ chốn thâm cung. Đến thời Bắc Chu (557-581), câu thơ của Dữu Tín “Động phòng hoa chúc minh”, là lần đầu tiên gắn “động phòng” với “hoa chúc” (đèn hoa, hoa đuốc).

Đến thời nhà Đường (618-907) thì từ “động phòng” dùng chỉ nơi nam nữ yêu đương, dùng để miêu tả tình cảm chốn khuê phòng. Ví dụ:

“Lạc diệp lưu phong hướng ngọc đài, dạ hàn thu tư động phòng khai”. (Cổ ca – của Thẩm Thuyên Kỳ)

Tạm dịch: “Lá rụng gió bay đến ngọc đài, đêm thu lạnh nhớ động phòng khai”

“Mạc xuy Khương địch kinh lân lý, bất dụng tỳ bà huyên động phòng”. (Xương nữ hành – của Kiều Tri Chi)

Tạm dịch: “Chớ thổi sáo Khương kinh hàng xóm, chẳng gảy tỳ bà nhiễu động phòng”.

Trong những câu thơ này, “động phòng” vẫn chưa phải là danh từ chỉ phòng tân hôn. 

Thời nhà Đường, Phật giáo rất thịnh hành, “động phòng” còn được dùng để chỉ sơn phòng của tăng nhân, tức phòng của hòa thượng tu hành trên núi. Vương Duy có câu thơ: “Động phòng ẩn thâm trúc, thanh dạ văn dao tuyền”, nghĩa là: “Động phòng ẩn sâu sau khóm trúc, đêm thanh văng vẳng tiếng suối xa”.

Từ thời Trung Đường về sau, từ động phòng mới dần dần mở rộng nghĩa là phòng tân hôn. Thi nhân Chu Khánh Dư có câu thơ rằng: “Động phòng tác dạ đình hồng chúc, đãi hiểu đường tiền bái cữu cô”, nghĩa là: “Động phòng đêm xuống tắt đuốc hồng, đợi sáng lên bái bố mẹ chồng”.

Trong tác phẩm “Cổ kim tiểu thuyết” của tài tử đời Minh Phùng Mộng Long có viết: “Hai người bái thiên địa, rồi bái cha chồng, mẹ chồng, sau đó phu thê giao bái, lễ xong, trở về động phòng mở tiệc hoa chúc”.

Nổi tiếng nhất là câu thơ của Hồng Mại đời Tống: “Động phòng hoa chúc dạ, kim bảng đề danh thì”, nghĩa là: “Đêm động phòng hoa chúc, lúc bảng vàng ghi danh”. Câu thơ bất hủ này được mọi người yêu thích và lưu truyền rộng rãi từ đó đến ngày nay. Từ đó từ động phòng dần dần trở thành danh từ chuyên dùng chỉ phòng tân hôn.

Hai người bái thiên địa, rồi bái cha chồng, mẹ chồng, sau đó phu thê giao bái, lễ xong, trở về động phòng mở tiệc hoa chúc Hai người bái thiên địa, rồi bái cha chồng, mẹ chồng, sau đó phu thê giao bái, lễ xong, trở về động phòng mở tiệc hoa chúc. (Ảnh: Wikipedia)

Từ đó, từ “Động phòng” được sử dụng rộng rãi ở vùng Trung Nguyên và dần lan sang các nước Á Đông, bao gồm cả Việt Nam, và được sử dụng đến ngày nay. Nhưng thời cận và hiện đại, một số người dịch từ các ngôn ngữ phương Tây, đã dùng từ “Động phòng” để dịch cho từ “Consummation” (qua đêm tân hôn)  trong tiếng Anh, gây lên những hiểu sai của đại đa số mọi người ngày nay.

Tuy nhiên, trong truyền thuyết dân gian thì từ “Động phòng” này là do Hiên Viên Hoàng Đế quy định ra.

Từ “Động phòng” theo truyền thuyết dân gian

Hoàng Đế đánh bại Xi Vưu, dẹp yên chiến tranh, xây dựng liên minh các bộ lạc, xóa bỏ tục quần hôn, kết thúc thời kỳ hoang dã, khởi đầu thời kỳ văn minh nhân loại.

Con người khi đó đã quá quen với cuộc sống quần hôn, trong thời gian ngắn thay đổi thành chế độ một vợ một chồng quả là rất khó khăn, có lẽ cách đây 5000 năm, đó là một cuộc cải cách lớn. 

Tuy nhiên quần hôn lại là mối nguy cơ nghiêm trọng cho liên minh các bộ lạc mới được thành lập, vì quần hôn thường xảy ra chuyện cướp hôn, nam cướp nữ, có cả nữ cướp nam. Giữa các bộ lạc thường xảy ra mâu thuẫn đánh nhau do chuyện cướp hôn. Thời gian càng lâu thì mâu thuẫn giữa các bộ lạc càng gay gắt, khả năng liên minh các bộ lạc bị chia rẽ tan rã là rất lớn. 

Hoàng Đế vì thế mà thường lo nghĩ ưu sầu. Ông triệu tập các đại thần là Thường Tiên, Đại Hồng, Phong Hậu, Lực Mục, Thương Hiệt đến, nhiều lần thương nghị làm thế nào để ngăn chặn quần hôn, xây dựng chế độ một vợ một chồng. Mọi người đều không nghĩ ra biện pháp khả thi nào.

Một hôm, Hoàng Đế cùng các đại thần đi tuần tra các hang động người dân cư trú xem có an toàn hay không. Họ bỗng phát hiện ra một gia đình trú ở 3 hang động để phòng ngừa dã thú xâm hại. Ở xung quanh, họ dùng đá xếp thành bức tường bao khá cao, chỉ để một cổng vừa một người đi lọt. Phát hiện này khiến Hoàng Đế rất vui mừng. Tối hôm đó, ông triệu tập các đại thần lại. Hoàng Đế nói: “Ta đã có ý tưởng ngăn chặn quần hôn, giờ nói ra để mọi người cùng thảo luận xem có được hay không”.

Hoàng Đế nói: “Ta đã có ý tưởng ngăn chặn quần hôn, giờ nói ra để mọi người cùng thảo luận xem có được hay không” Hoàng Đế nói: “Ta đã có ý tưởng ngăn chặn quần hôn, giờ nói ra để mọi người cùng thảo luận xem có được hay không”. (Ảnh qua SOH)

Chúng thần đều xin Hoàng Đế mau nói ra ý tưởng. Hoàng Đế nói:

“Hôm nay chúng ta đã thấy hang động cư trú của dân chúng, ta nghĩ, biện pháp duy nhất để ngăn chặn quần hôn là từ nay về sau thực hiện chế độ một vợ một chồng, khi kết hôn thì trước tiên tập trung cư dân của cả bộ lạc đến để chúc mừng, cử hành nghi lễ, trước tiên bái thiên địa, sau đó bái cha mẹ, rồi phu thê giao bái. Sau đó uống rượu chúc mừng, hát ca nhảy múa, tuyên bố 2 người đã chính thức kết hôn. Sau đó, sau đó đưa hai vợ chồng tân hôn vào một phòng hang động đã chuẩn bị từ trước, xung quanh xếp tường cao, chỉ để một cửa ra vào. Việc ăn uống đều do người thân hai bên nam nữ cung cấp, dài thì 3 tháng, ngắn thì 40 ngày, để họ ở trong hang động tạo dựng tình cảm vợ chồng, học cách nổi lửa nấu ăn, học cách sống”. 

“Từ nay về sau, hễ người trong bộ lạc kết hôn, nam nữ vào trong phòng ở hang động, gọi là động phòng, thì đó gọi là hôn phối chính thức, không được phép cướp nam nữ của người khác. Để phân biệt người đã kết hôn và người chưa kết hôn thì phụ nữ đã kết hôn không được thả tóc nữa mà phải vấn tóc. Mọi người nhìn là biết người nữ này đã kết hôn, những người nam khác không được mưu tính gì với cô nữa, nếu không xe phạm vào quy định pháp luật của bộ lạc”.

Hoàng Đế nói xong ý tưởng của mình, lập tức các đại thần Thường Tiên, Đại Hồng, Lực Mục và những người khác đều ủng hộ. Chúng thần đề nghị bảo Thương Hiệt viết quy định pháp luật, công bố cho dân chúng. Thế là quy định này đã rất nhanh chóng được dân chúng các bộ lạc ủng hộ. Họ đều đua nhau đào hang động, xây tường bao cho con cái của họ. Khi con cái của họ kết hôn, sau khi cử hành nghi lễ xong thì đưa hai người mới kết hôn vào động phòng. Thế là hủ tục quần hôn dần dần biến mất, chế độ một vợ một chồng dần dần hình thành.
(Nguồn: KKnews)

Hoàng Mai

Related Articles

Responses